Gẫy xương điều trị bằng y học cổ truyền

Gẫy xương điều trị bằng y học cổ truyền

Gẫy Xương

LỜI NÓI ĐẦU

          Ngoại khoa là một chuyên ngành y học điều trị nhiều loại bệnh tật khác nhau bằng phẫu thuật và các biện pháp kỹ thuật ngoại khoa, ví dụ: gẫy xương, sai khớp, nhiều khi chỉ cần nắn chỉnh hình và cố định bằng kéo liên tục hay bó bột.

Ngay từ khi hình thành nhân loại, y học đã ra đời để chăm sóc người bệnh, người nguyên thủy đã biết trích, rạch để lấy vật lạ đâm vào cơ thể, biết dùng sắt lung đỏ để cầm máu và chữa trị các vết thương, biết cố định gãy xương, biết khoan sọ.

Trong điều trị gãy xương bằng y học hiện đại đã áp dụng nhiều kỹ thuật tiên tiến và đạt được nhiều kết quả cao trong điều trị. Nhưng y học cổ truyền cũng có những phương pháp, giải pháp lưu truyền từ đời này qua đời khác cũng đem lại hiệu quả cao.

Những ưu điểm điều trị gãy xương bằng y học cổ truyền:

Y học hiện đại điều trị gãy xương thường quá nhấn mạnh đến việc cố định bằng thạch cao, xem thường hoạt động của chỗ bị gãy, hiệu quả điều trị thường không làm mọi người hài lòng, có nhiều nhược điểm như lâu khỏi bệnh, thời gian điều trị dài, dễ bị loãng xương và khô các cơ, xơ cứng khớp, kết dính các cơ với nhau, bệnh khỏi lại gây di hình và khó khăn khi phục hồi chức năng phần xương gãy.

Các độc giả của đông y hiện đại và đông tây y kết hộp đã dung hòa việc điều trị thử nghiệm điều trị từ trước đến nay, phát triền thành công một phương pháp điều trị gãy xương mới, qua “kết hợp giữa động và tĩnh, gân và xương cùng chịu lực, điều trị kết hợp giữa trong và ngoài, đồng thời phối hợp chạy chữa vết thương”. Khi điều trị vết thương” cố định bên ngoài bằng một tấm bản nhỏ”; so sánh với các phương pháp điều trị bằng y học hiện đại, toàn bộ quy trình điều trị rút ngắn được 1/2 thời gian, tỉ lệ không khỏi bệnh giảm xuống còn 0,5%, hơn nữa lại ít phát sinh các bệnh bội nhiễm, khôi phục chức năng đã gãy nhanh, đạt được sự tiến triển mang tính chất đột phá về mặt điều trị gãy xương. Giới y học cho rằng diều trị gãy xương bằng đông tây y kết hợp được xếp vào vị trí hàng đầu thế giới, đáng được mọi người coi trọng.

Y học hiện đại điều trị gãy xương nhờ cố định bằng cặp bảng nhỏ ( làm hai miếng gỗ hoặc kim loại), đảm bảo cố định phần xương cục bộ có hiệu quả, chủ trương nhanh chóng luyện tập sớm chức năng bộ phận xương bị gãy, có lợi cho việc tăng nhanh tuần hoàn máu, thúc đổi sự trao đổi chất và tích tụ các chất calci, từ đó tái tạo các tế bào xương mới. Đây chính là hiểu quả trong việc cố định bằng thạch cao không thể đạt được.

Y học cổ truyền, trong phương pháp lâm sàng, hết sức coi trọng sự biến đổi trong cơ thể người bệnh; do đó trong điều trị gãy xương, lấy việc uống thuốc có tác dụng bên trong cơ thể làm phương pháp điều trị bổ sung cần thiết. Hiện nay thực tế đã chứng minh người bị gãy xương uống thuốc đông y không chỉ có thể cải thiện được tình trạng các cơ quan trong toàn bộ cơ thể mà còn tăng nhanh quá trình lành bệnh các bộ phận xương bị gãy và các tổ chức các khớp tổn thương.

Năm tuần sau khi xương bị gãy thì các bộ phận hầu như đã liên kết lại. Ngoài việc tăng cường luyện tập các chức năng các bộ phận, còn có thể áp dụng các phương pháp chườm ngoài bằng thuốc đông y hoặc tấm hơi, thúc đẩy các khí huyết dồi dào, các đường nối trong các bộ phận được thông suốt, tái sinh những tế bào mới, có tác dụng rất lớn để phục hồi chức năng xương gãy. Tất cả những người gặp khó khăn khi cử đông khớp sau khi bị gãy xương đều có thể thử nghiệm phương pháp điều trị bên ngoài bằng y học cổ truyền  như: châm cứu, chườm ngoài, tắm hơi, sẽ làm các cơ thịt và cơ gân hoặc dây đàn hồi nới lỏng và mềm mại

Bệnh học Ngoại khoa- Thương khoa Đông y bao gồm 2 phần:

 1. Bệnh học Ngoại khoa.

Bệnh Ngoại khoa là những chứng bệnh vừa tại chỗ vừa liên quan tới toàn thân ,có tính cấp thiết cần phải giải quyết . Bệnh học Ngoại khoa chiếm một vị trí quan trọng trong công tác chữa bệnh cứu người của Đông  y . Bệnh học Ngoại khoa vận dụng hoàn chỉnh toàn bộ lý luận Đông  y vào thưc tiễn lâm sàng,có mối liên quan chặt chẽ với các khoa khác như: Nội khoa ,phụ khoa ,các bệnh ngũ quan …

 2. Bệnh học Thương khoa (Chấn thương ).

Bệnh học Thương khoa ( Chấn thương ) là những chứng trạng xảy ra tức thời do các nguyên nhân bất  nội ngoại nhân như: Ngã, đâm chém, bom , đạn, bỏng, trùng thú cắn …Bệnh có thể chỉ tại chỗ hoặc cũng có thể liên quan tới toàn thân ,có thể nhẹ cũng có thể nặng  nhưng đều mang tính cấp thiết cần phải giải quyết ngay.

Tuy nhiên ,ngày nay nhờ tiến bộ của khoa học ,sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của thuốc kháng sinh và những phương pháp điều trị mới .Nhiều bệnh trước đây coi là nan y nay đã điều trị rất hiệu quả .Vì vậy ,những bệnh khi có nghi ngờ ,hoặc chưa phát hiện được cần chuyển đến bệnh viện chuyên khoa để diều trị , tránh tổn thất đến tính mạng và tiền bạc của người bệnh.

Trong chuyên đề này  xin trình bày phần Thương khoa ( Chấn thương ) Đông y.Trong Y hoc cổ truyền nếu  xương bị gãy gọi là chiết thương.

 IMỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG VỀ THƯƠNG KHOA ( CHẤN THƯƠNG ) ĐÔNG Y

1.  Định nghĩa:

Thương khoa là những chứng bệnh về sang chấn,chấn thương do: Ngã (trật đả), đánh nhau ,trùng thú cắn…gây tổn thương bì phu cơ nhục,mạch máu ,gân xương ,thậm chí cả tạng phủ …Từ đời nhà chu đã có thầy thuốc Dương y (thầy thuốc ngoại khoa – thương khoa)  chuyên chữa các chứng bệnh : Bị đâm chém , ngã ,gãy xương, chảy máu ,bong  gân,trật khớp, sưng loét…Từ đời tống vế sau chính thức lập ra chuyên khoa ,trong đó bộ phận nắn bó gãy xương đã thu được nhiều thành tựu rất lớn ,nhất là đời Nguyên ,việc luyện tập võ công và nghề cưỡi ngựa , bắn cung phát triển để tự vệ và săn bắn muông thú sinh nhai .Vì vậy ,xảy ra chấn thương nhiều nên thương khoa cũng  phát triển theo để đáp ứng nhu cầu chữa bệnh bảo vệ tính mạng cho nhân dân.

2. Nguyên nhân;

Thương khoa nguyên nhân chủ yếu là ngoại thương như: Bị ngã, đánh nhau, bị đâm chém ,bị trúng tên ,trúng đạn ,bị bỏng, : Lửa , nước sôi, hơi nóng ,bị cháy, trùng thú cắn…Tất cả các nguyên nhân từ bên ngoài gây tổn thương, nhẹ thì xây xước tổn thương bì phu cơ nhục;nặng thì dập ,gãy xương ,rách da, chảy máu hoặc dập vỡ tạng phủ… Ngoài ra cũng còn một số nguyên nhân do cơ thể phần khí hư yếu mà gây ra như; Ngáp mạnh quá gây trật khớp hàm ,đang đi vấp ngã trẹo khớp cổ chân , trật đốt sống  ngang thắt lưng …tất cả các chấn thương ở : Bì phu , cơ nhục ở chân tay, thân mình gân xương gọi chung là ngoại thương . Khi có tổn thương đến tạng phủ, phủ kỳ hằng ,hoặc mất nhiều máu làm  khí huyết hư suy gọi là nội thương.

3.  Đặc điểm chẩn đoán trong thương khoa;

Chẩn đoán của thương khoa cũng không ngoài tứ chẩn. Do đặc điểm nguyên nhân gây ra bệnh và tính cấp thiết cần phải xử lý khẩn trương để cấp cứu bệnh nhân nhưng vẫn phải nhanh chóng phân biệt được : nội thương và ngoại thương .

Nếu xương bị gẫy gọi là chiết thương .

Có hai loại chiết xương: Gãy rời ra hoặc gãy đứt đoạn xương nhưng chưa rời ra gọi là gãy hoàn toàn, nếu gãy chưa hết gọi là gãy không hoàn toàn . Gãy xương mà chưa đâm thủng da thì gọi là gãy xương kín; Nếu gãy xưng mà thủng cả bì phu cơ nhục gọi là gãy xương hở.

  • Gãy ,vỡ xương đầu :Chỗ vỡ , gãy xưng lên, màu da bầm tím, hoặc có chảy máu , hoặc lõm sâu vào làm đầu biến dạng.Nếu vỡ xương sọ rách cả da có thể thấy cả sọ não.
  • Gãy xương sống mũi: Sống mũi lõm xuống , chảy nhiều máu đỏ tươi từ lỗ mũi .
  • Gãy xương hàm: Không thể há miệng, nhai cắn được, hơi nói hoặc nuốt nước bọt cũng đau. Nếu gãy hở có máu chảy rỉ rả ra miệng, nói năng khó khăn , không thể nhai được,mặt biến dạng.
  • Gãy xương đòn gánh : Hai vai mất cân đối ,có dấu hiệu so le vai; vai bên gãy xương sụp xuống ,cánh tay không vận được hoặc không cử động được.
  • Gãy xương đùi : Chỗ mông sưng ,đau dữ dội ,chân ngắn hơn chân lành ,không vận động được ,chân đổ ra phía ngoài hoặc nghiêng vào phía trong .
  • Vỡ xương bánh chè : Chỗ xương bánh chè sưng, khớp đầu gối đau , không co duỗi vận động được.
  • Gãy xương sườn : Ở bên sườn bị tổn thương có khi lồi ra , có khi lõm xuống do xương gãy đập vào trong , đau ngực ,thở khó khăn, ho đau dữ dội ,thân mình khó hoặc không quay trở được.
  • Gãy xương cột sống : Chỗ lưng không cúi gập xuống được , mất hết chức năng vận đông , nặng thì tùy theo vị trí gẫy mà chân hay tay liệt hoặc không cử động được , toàn thân tê dại ,đại tiểu tiện không tự chủ có khi hai chân co giật , mất hẳn chi giác.
  • Gẫy xương cánh tay: Cánh tay to hơn tay lành , đau buốt. Nếu gẫy rời ra thương tay ngắn hơn tay lành , ngón tay cử động khó khăn đau tê buốt .Nếu dập nát cả xương và cân cơ thì tay dài hơn tay lành , cánh tay lủng lẳng , bàn và ngón tay mất cử động, mất cảm giác.
  • Gẫy xương cẳng tay: Cẳng tay to hơn tay lành , đau buốt . Nếu gẫy rời ra biến dạng khác thường hoặc tay ngắn hoặc dài hơn tay lành, bàn , ngón tay cử động khó khăn , kèm theo sưng, dau, tê buốt . Nếu dập nát cả xương và cân cơ thì tay dài hơn tay lành , cẳng taylungr lẳng , bàn và ngón tay mất cử động, mất cảm giác.
  • Gẫy xương cẳng chân: Cẳng chân to hơn chân lành , đau buốt ,không đứng ,đi lại được .Nếu gẫy rời ra biến dạng khác thường hoặc chân ngắn hơn chân lành ; bàn ,ngón chân cử động khó khăn , kèm theo ,sưng, đau ,nhanh ,chân có thể bị cong.
  • Gẫy xương bàn ngón tay: Bàn tay, ngón tay sưng to, giơ tay lên cao dễ chịu , hạ tay xuống thấy tê, nhức đau buốt không thể chịu được, không cầm nắm được.
  • Gãy xương bàn ngón chân: Bàn ngón chân sưng to, không co gấp bàn chân được ,đi, đứng rất đau.Nặng thì không ,không đứng được.

II.  NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ GẪY XƯƠNG KẾT HỢP Y HỌC CỔ TRUYỀN.

1.  ĐẠI CƯƠNG.

Điều trị gãy xương theo y học cổ truyền , ngoài việc cố định xương gẫy còn hết sức chú trọng vận động cơ khớp trong thời gian cố định . Xương gẫy sau khi nắn chỉnh được cố định một cách hợp lý có thể giữ cho các đoạn xương gẫy ở vị trí tương đối chính xác là xương gẫy có thể cố định bình thường; mặt khác cần bắt chi gãy và toàn thân luyện tập với cường độ và biên độ trong giới hạn cho phép để giúp cho thương tổn chóng lành , xương gẫy chóng  lành , và cơ năng chi sớm bình phục .

Các xương  hoạt động  được nhờ các tổ chức phần mềm , ngược lại bộ xương lại là điểm bám tựa cho các cơ , giữa chúng có mối tác động  và  ảnh hưởng lẫn nhau. Khi gẫy xương di lệch , thường kèm theo thương tổn phần mềm ; do vậy, khi điều tri gẫy xương , cần chú trọng điều trị cả xương gẫy lẫn tổ chức phần mềm. Xương  gẫy cần được nắn chỉnh và cố định sớm ,tổ chức phần mềm khỏi bị tổn thương thêm .

Tuy nhiên, khi tổ chức phần mềm tổn thương nghiêm trọng , nguy cấp đến tính mạng và tổn hại chi bị thương ( ví dụ như đứt mạch máu, nội tạng tổn thương …) thì cần phải được xử lý trước , sau đó mới điều trị gẫy xương .Cấp cứu tính mạng và phòng ngừa tàn phế , để lại hậu quả nghiêm trọng là nguyên tắc điều trị bứơc đầu.

Quy trình điều trị một gãy xương gồm 4 nguyên tắc có quan hệ hữu cơ tuân thủ theo nguyên lý “ động – tĩnh ” Và quan tâm “ tại chỗ – toàn thân ” .Bốn nguyên tắc đó là:

  • Nắn chỉnh sớm xương gãy .
  • Cố định ngoài cục bộ một cách hợp lý .
  • Luyện tập công năng .
  • Dùng thuốc .

Chỉ định điều trị theo y học cổ truyền cho các loại gẫy xương được chỉ định bó bột và gẫy xương sớm không do bệnh lý

2 NẮN CHỈNH SỚM XƯƠNG GẪY.

Chỉ dùng cho gẫy xương có di lệch

2.1  Thời gian nắn chỉnh

           Gãy xương càng được nắn chỉnh sớm càng tốt , tốt nhất là nắn chỉnh trong vòng 1 – 4 giờ sau khi bị nạn vì lúc này tại chỗ chưa sưng nề lớn , thủ pháp thao tác dễ dàng , có lợi cho việc liền xương . Khi chi gẫy đã sưng nề nghiêm trọng thì có thể dùng trong uống , ngoài đắp thuốc , cố định nẹp hoặc kéo liên tục ; đồng thời gác cao chi, đợi cho sưng nề giảm mới nắn chỉnh . Trẻ em do xương gẫy chong liền nên càng cần nắn chỉnh sớm , không cần đợi đến khi hết sưng nề mới tiến hành ngay .Chẳng hạn , trẻ bị gẫy trên lồi cầu xương cánh tay , tại chỗ cho dù sưng nề nhiều hay ít đều cần phải nắn chỉnh sớm . Khi nắn có thể dùng hai tay ép vùng gẫy làm bớt sưng nề giúp cho việc nắn chỉnh dễ hơn

2.2.  Vô cảm trước khi nắn chỉnh

2.2.1. phương pháp vô cảm

Trước đây y học cổ truyền  trong nhiều trường hợp không cần hoặc không có thuốc vô cảm thì động tác của thủ thuật nắn chỉnh được thực hiện nhanh , mạnh ,dứt khoát . Trong một số trường hợp , bệnh nhân được giảm đau bằng rượu ,bằng ma túy , kèm theo một số thuốc trợ dương khí , sinh mạch như  Quế nhục ,Mạch môn, Ngũ vị ,Phụ tử chế…hoặc giảm đau bằng phương pháp châm tê.

Hiện nay hay dùng giảm đau bằng phương pháp châm tê hoặc thủy châm tê bằng Novocain. Lidocain.

Mục đich vô cảm là để làm cho bệnh nhân hết hoặc giảm đau và giãn cơ giúp cho việc nắn chỉnh được dễ dàng ,ngày nay , vô cảm được áp dụng theo mấy phương pháp dưới dây:

  • Gây tê ổ gẫy : dùng 5-20ml dung dịch Novocain hoặc xylocain1% tiêm thẳng vào ổ gẫy .Kỹ thuật đơn giản ,dễ làm ,giảm đau tương đối tốt, thời gian chờ đợi ngắn ( 5- 10 phút ) .Phương pháp đòi hỏi vo trùng  tuyệt đối vì nếu không vô trùng tốt ,vì việc tiêm vô tình đã biến gẫy kín thành gẫy hở , có thể có biến chứng nghiêm trọng là nhiễm trùng ổ gẫy.
  • Gây tê cục bộ: Đối với người lớn , có thể gây tê vùng ; gẫy chi trên có thể gây tê đám rối thần kinh cánh tay; gẫy chi dưới có thể gây tê ngoài màng cứng  (phương pháp này ít làm )…Ưu điểm của phương pháp là giảm đau tương đối tốt , thời gian vô cảm kéo dài, giảm dần cho đến 2 giờ sau. Nhược điểm của phương pháp là đòi hỏi kỹ thuât cao và kinh nghiệm , trong một số trường hợp gây tê đám rối không thành công và có thể có tai biến do tiêm vào mạch máu , kim tiêm gây tổn thương ngoài ý muốn ,sốc…
  • Thủy châm tê: Thủy châm tê là phương pháp vô cảm kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền  : Dùng 10 – 20ml thuốc Novocain hoặc Xylocain 1% tiêm vào các huyệt nằm lân cận hoặc nằm trên các đương kinh đi qua ổ gẫy . Phương pháp đơn giản, an toàn , không có nguy cơ nhiễm trùng ổ gẫy , không làm thay đổi nội môi ổ gẫy như tiêm tê ổ gẫy , giảm đau tương đối tốt , thời gian chờ đợi khoảng 15 – 20 p. Nhược điểm của phương pháp là vô cảm không hoàn toàn , người thủy châm tê cần biết huyệt vị cần tiêm.
  • Châm tê : Châm tê cũng cho kết quả giảm đau tương đối tốt. Hiệu quả còn được kéo dài khoảng 30 phút sau khi ngừng tác động. Tuy nhiên thời gian đợi tê dài ( Ít nhất là 30 phút ), không giảm đau hoàn toàn , phải phụ thuộc vào loại gãy và bệnh nhân thuộc nhóm đáp ứng tốt với châm tê ; người châm tê  cần phải chuyên sâu và phương tiện châm tê như dây điện đôi khi làm vướng , cản trở thủ thuật nắn chỉnh xương gẫy .
  • Gây mê : Gây mê là phương pháp vô cảm tuyệt đối , cơ mềm tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho nắn chỉnh xương gẫy . Với thành tựu của khoa học , gây mê ngày càng tiến bộ cho phép gây mê kéo dài và ngày càng an toàn hơn . phương pháp còn có ưu điểm giúp trẻ em dưới 10 tuổi khỏi bị kinh sợ .Tuy vậy , gây mê đòi hỏi có cán bộ chuyên sâu , chỉ có thể tiến hành ở những cơ xở y tế có đầy đủ trang thiết bị chuyên nghành . thời gian chờ đợi cho phép gây mê an toàn là nhịn ăn ,uống ít nhất là 6 giờ , đoi khi chi gẫy sưng nề lớn hơn . điều này ít nhất ảnh hưởng xấu cho việc nắn chỉnh di lệch của xương gẫy .Một số bênh nhân mắc bệnh mạn tính quan trọng như bệnh gan , thận, bệnh phổi …chống chỉ định gây mê.
  • Như vậy gây mê có nhiều ưu điểm , nhưng nay còn khó phổ cập trong hoàn cảnh nước ta .

2.2.2  X quang có vai trò hết sức quan trọng , nó cho phép hiểu rõ các di lệch để chỉ định thủ pháp nắn chỉnh và chế tác các nẹp cố định. Đồng thời kiểm tra sự ổn định của các đoạn gẫy trong quá trinh điều trị .

2.2.3  Khi nắn chỉnh , tùy từng loại gẫy khác nhau mà vị trí các khớp , chi gẫy được để ở tư thế cho phù hợp : Cơ nhục ở trong trạng thái chùng , thư giãn để tiến hành nắn chỉnh thuận lợi hơn.

2.2.4.  Các thủ pháp nắn chỉnh

Nguyên tắc chung theo tám pháp nắn xương của Y tôn kim giám :

  • Cách sờ nắn: mục đích sờ nắn trực tiếp một nữa để xác định vị trí , hình thể , hướng di lệch của đầu xương gẫy để quyết định hướng kéo, sức kéo vừa đủ đê xương vào vị trí gẫy , hạn chế sai lệch.
  • Cách chắp xương: Là cách kéo ,nắn , đẩy mẩu xương đã bị gẫy chắp liền với nhau sao cho trở về như cũ . Sau đo băng bó ,nẹp lại tạo điều kiện cho chỗ bị gẫy luôn luôn ở tư thế ban đầu ( tư thế giải phẫu ) nhờ đó cốt mạc phát triển và liền với nhau.
  • Cách nắn cho ngay ngắn về vị trí ban đầu : Là một trong những thủ thuật quan trọng để nắn đưa xương về vị trí như cũ của xương bị gẫy . Trước khi nắn phải căn cứ vào hướng xương gẫy ,mức độ co ngắn của chi bị gẫy , thầy thuốc lấy một tay cầm chặt chi bị gẫy , tay kia nắm chỗ xương gẫy cần sửa kéo vừa đủ ,từ trên xuống dưới , hoặc nắn thẳng từ ngoài vào trong hoặc kéo thẳng ,hoặc kéo xiên cho xương trở lại vị trí ban đầu . Đối với xương lớn như xương đùi cần có hai hoặc ba người, một ngưới kéo theo hướng đã đinh, một người đẩy hai đầu xương gẫy cho khớp vào nhau khi thấy tiếng cục là được. Sau đó băng bó , nẹp lại tạo điều kiện cho chỗ bị gẫy luôn luôn ở tư thế ban đầu ,nhờ đó cốt mạc phát triển và liền với nhau.
  • Cách nâng lên: Mục đích nâng xương gẫy bị lõm xuống hay xập xuống nâng cho nó lên nguyên chỗ cũ . Có thể lấy hai tay vun vun nâng dần từ các hướng , sao cho chỗ xương lõm thì lên dần được mà bệnh nhân cũng  đỡ đau, cùng hợp tác với thầy thuốc để đạt hiệu quả.
  • Cách miết : Có hai mục đích ,một là làm cho xương gẫy đó trở lại vị trí ban đầu , hai là làm cho gân cơ đang căng vi huyết ứ trở lại bình thường.
  • Cách nắm: Là một loại động tác kéo lại trái với động tác miết , trên thực tế thì ttrong khi làm phần nhiều kết hợp vận dụng với cách miết .Nếu xương gẫy sau khi đã chữa rồi , vết thương tuy đã lành mà khí huyết chưa lưu thông lại không thể dùng những cách chắp , cách chỉnh lại , cách nắn ngay , cách nâng lên , thì có thể dùng các miết , cách nắm để cho thông kinh hoạt huyết .
  • Cách ấn: Là ấn mạnh ở một huyệt vị gần nhất phía trên chỗ đau , dùng tay ấn đè xuống , mục đích để làm hoạt huyết , tán ứ và tiêu trừ sưng đau, có thể làm cho chỗ đau nổi phồng trở lại bình thường , huyết mạch không thông thì được lưu thông.
  • Cách xoa: Xoa là ấn nhẹ di chuyển nhanh trên một diên rộng , ấn là ấn mạnh ở một điểm cố định ; hai phép thường thường cũng kết hợp với nhau. Một nhẹ,môt nặng có thể điều dinh vệ ,thông khí huyết .Nếu bì phu ,cơ nhục bị tổn thương , chỉ thấy sưng đau tê dại mà xương chưa gẫy đứt , hoặc vì bị vấp ngã ,đấm thụi ,khớp xương có sai một ít,chỗ bị thương sưng đau ,đều có thể vận dụng phép ấn xoa. Sách y tôn kim giám viết “ Ấn chỗ kinh lạc cho thông chỗ bế tắc , xoa chỗ ứ đọng lại cho tan ứ kết ”.Đó là  tác dụng trọng yếu của hai phép ấn và xoa.

Tóm lại trong lâm sàng tám phép có liên hệ mật thiết với nhau. Trước khi làm phép sờ nắn ,phải sờ cho rõ ràng , trước khi làm phép chắp , phép nắn ngay cần phải làm phép nâng lên cho tốt ,trước khi làm phép nâng lên cần phải làm phép nắm và cách miết ,sau khi làm phép chắp và cách nắn cho ngay rồi lại làm cách sờ nắn để kiểm tra xem xương gẫy nắn đã trở lại chỗ cũ ( Vị trí giải phẫu ) hay chưa, sau khi đúng vị trí rồi lại làm những cách miết ,nắm, ấn, xoa để trừ hết sưng đau , thông lợi khí huyết .Do đó tám cách phải vận dụng phối hợp.

3.  Cố định ngoài cục bộ.

3.1. Tác dụng của cố định ngoài

Ưu điểm của cố định nẹp – dây buộc là dễ dàng điều chỉnh độ chặt theo tiến triển của sưng . Sưng càng giảm bao nhiêu , dây càng được buộc chặt tiến theo đến đó.

Việc sử dụng lạt giang cho phép điều chỉnh độ chặt êm ái , nhẹ nhàng , không ảnh hưởng đến bất động .Tuy nhiên lạt giang không có sự đàn hồi thích ứng cần thiết cho diễn biến của sưng nề , nhất là thời gian đầu .Sử dung dây băng vải khắc phục được nhược điểm này , nhưng việc tháo mở nút để điều chỉnh độ chặt khó khăn hơn.

3.2.  Các loại cố định ngoài cục bộ..

  • Đơn thuần dùng nẹp và dây vải để cố định ngoài cục bộ: thích dụng đối với viêc các gẫy xương ống dài ( Trừ gẫy xương đùi ) .
  • Cố định nẹp vượt khớp : Dùng  với gẫy xương gần khớp và gẫy nội khớp .Như gẫy lồi cầu ngoài hoặc lồi cầu trong xương cánh tay, gẫy xương cánh tay 1/3 trên và 1/3 dưới , gẫy trên lồi cầu xương cánh tay , gẫy mỏm khuỷu ,gẫy xương chày đoạn trên cổ chân.
  • Cố định nẹp kết hợp khung cố định : Thường dùng cho gẫy xương đùi (gẫy một đoạn).
  • Nẹp kết hợp giá đỡ cố định chi trên : Thích dụng cho trường hợp gẫy xương cánh tay xoay trong và xoay theo trục để đề phòng đoạn ngoại vi gấp góc vào trong.
  • Cố định vòng mây: Thích dụng khi bị gẫy xương bánh chè tách hai mảnh , di lệch xa nhau.
  • Nẹp kết hợp quang cao su: thích dung cho trường hợp gẫy thân xương cánh tay có di lệch xa nhau do trọng lực của đoạn ngoại vi kéo xuống.

4. Luyện tập công năng. 

          Nguyên tắc tập luyện : tập từ nhẹ đến mạnh, từ biên độ nhỏ đến biên độ lớn ,từ đơn giản đến phức tạp và không được động tác nào tập gây đau.

4.1. thứ tự luyện tập.

4.1.1. Thơì kỳ đầu: Thời kỳ này thường tiến  hành 1-2 tuần sau gẫy ,luyện tập thời kỳ này chủ yếu là co duỗi cơ tại chỗ.

4.1.2. Thời kỳ giữa: Luyện tập thời kỳ này là tiếp tục tiến hành hoạt đông co duỗi cơ tại chi tổn thương ,nhờ trợ giúp của chi khỏe ,động tác phải chậm ,phạm vi phải từ nhỏ đến lớn .

4.1.3. Thời kỳ cuối : Thời kỳ này hình thức luyện công chủ yếu là tăng cường hoạt động chủ động của các khớp của chi gẫy làm cho hồi phục phạm vi hoạt động bình thường của các khớp.

4.2. Những điều cần chú ý khi luyện tập công năng.

  • Căn cứ vào sự khác nhau giữa các giai đoạn gãy, nơi gãy, bản chất của thương tổn phối hợp để ứng dụng các phương pháp tập luyện khác nhau. Các hoạt động nhất thiết tiến hành dưới sự chỉ đạo của nhân viên y tế.
  • Luyện công phải tiến dần từng bước. Ngay sau khi nắm chỉnh cố định cần bắt đầu luyện công kiên trì cho đến liền xương. Căn cứ tiến trình liền xương, phạm vi luyện công từng bước gia tăng, tăng dần số lần, nhưng cần phải tránh không để chỗ gãy bị đau và toàn thân quá mệt.
  • Luyện công không được ảnh hưởng đến độ chặt của cố định xương gãy, nhất thiết cấm tuyệt đối mọi hoạt động bất lợi cho sự liền xương.

5. Dùng thuốc

     Ngoài nguyên tắc cố định xương gãy : kết hợp động và tĩnh ở trên, nguyên tắc thứ hai trong điều trị gãy xương theo YHCT là kết hợp tại chỗ với toàn thân còn thể hiện trong dùng thuốc xoa hoặc đắp ngoài có tác dụng tại chỗ và thuốc uống trong có tác dụng toàn thân

5.1. Thuốc dùng ngoài

      Kinh nghiệm trong dân gian cũng như sách ghi chép lại về thuốc dùng ngoài để đắp bó gãy xương rất phong phú. Thế kỷ XIV, Tuệ Tĩnh trong sáchNam dược thần hiệu có phần dành riêng cho thương khoa và dược vật ứng dụng. Đầu thế kỷ thứ XVIII Hải Thượng Lãn Ông (Lê Hữu Trác) trong quyển Bách gia trân tang có nêu bài thuốc từ Lào truyền sang:

   Bài thuốc đắp:

Gà con 1 con ( bỏ lòng và lông )

Tầm gửi ,vỏ gạo, quế chi tán bột 20g.

Ba bát cơm nếp

Đậu bỏ vỏ 3 cân

Tất cả các thứ giã nhừ lẫn nhau đắp vào vùng gẫy sau khi đã kéo nắn.

Có khá nhiều bài thuốc chữa ngoài, tuy nhiên nhược điểm phần lớn các bài thuốc là nhiều vị , phải thay nhiều lần làm bệnh nhân đau và dễ gây di lệch thứ phát.

Các thuốc dùng ngoài được sử dụng tùy thời kỳ , hướng theo các pháp điều trị như uống thuốc trong .Hai pháp được chú trong: Hoạt huyết tiêu ứ và bổ can thận ,tiếp liền xương .Các bài thuốc được cấu tạo từ các vị thuốc có tác dụng hoạt huyết ,lợi thủy làm ôn ấm gân cốt ,giảm đau , thúc đẩy liền xương và có tác dụng sát trùng.

Về sau các thầy thuốc có xu hướng cải tiến theo hướng giảm số vị và dạng dùng từ dạng thô đến dạng bột rồi đến dạng cao dán , cồn xoa.

Dưới đây là công thức cao dán được sản xuất tại khoa dược viện YHCT ViệtNam.

    Công thức cao thống nhất:

Bột ngải cứu          4 phần                          Bột đại hồi            0,8 phần

Bột cúc tần            8 phần                          Bột quế chi            1,6 phần

Sáp ong                 2 phần                          Dầu thầu dầu         20 phần

Tất cả được trộn đều , ép lên vải mỏng hoặc giấy dai để dán vào vùng ổ gẫy ( Lương y Phạm Văn Sửu )

Công thức băng vết thương gãy hở ( Lương y Bùi Xuân Vạn ,Thanh hóa)

Hồng đơn        12g             Băng phiến    4g         Bạch cập           8g

Ngày nay dưới ánh sang của khoa học , tác dụng của nhiều bài thuốc đã được làm sáng tỏ .Tuy nhiên việc xoa bóp , đắp thuốc trong chấn thương gẫy xương cũng cần đúng phương pháp tuân theo cơ chế của sinh học liền xương.

5.2 Thuốc dùng trong

Dựa trên quan điểm điều trị toàn diện , kết hợp tại chỗ và toàn thân sau khi xương gẫy được nắn chỉnh và cố định, YHCT chủ trương dùng thuốc tác động tại chỗ bằng xoa bóp ,đắp và thuốc uống trong có tác dụng toàn thân.

Trong thực tiễn lâm sàng ,dựa vào biện chứng luận trị ứng dụng thuốc YHCT điều trị gẫy xương có thể phân chia làm 3 thời kỳ: thời kỳ đầu ,thời kỳ giữa và thời kỳ sau.

Thời kỳ đầu dùng theo phép hành ứ, hoạt huyết ,sinh tân; thời kỳ giữa dùng pháp bổ ích can thận tiếp liền xương ; thời kỳ sau dùng pháp cường  2. Bệnh học Thương khoa (Chấn thương ). 2. Bệnh học Thương khoa (Chấn thương ).

5.2.1 Hoạt huyết phá ứ;  Gẫy xương thời kỳ đầu ( 1-2 tuần sau khi bị thương ) có thể dùng pháp hành ứ hoạt huyết sinh tân. Tuy nhiên cần phải tùy tình hình cụ thể thương tổn nặng nhẹ và bản chất của tổn thương để sử dựng pháp trị thích hợp.

5.2.2. Hành khí hoạt huyết : Trường hợp thương tổn thể chất ít, chứng trạng nhẹ có thể dùng phép này điều trị. Thuốc uống trong có thể dung Thất lý tán hoặc Trật đả hoàn .Thuốc sắc dùng bài Phục nguyên hoạt huyết thang .thuận khí tán,Hoạt dinh chỉ thống thang.

5.2.3. Công ứ phá trệ : Người bị nạn khỏe mạnh ,ứ trệ tương đối nghiêm trọng,tại chỗ sưng và ứ huyết lâu tiêu,trong trường này hoạt huyết có thể thu kết quả

5.2.4 Bổ can thận tiếp liền xương; Kỳ giữa của gẫy xương ( Sau gẫy 1-2 tuần đến khi liền xương trên lâm sàng ) có thể dùng pháp bổ ích can thận ,tiếp liền xương .thương dung bài, Tinh quế kết cốt cao, Nội phục bát lý tán và kết cốt tán.

5.2.5Cường cân tráng cốt: Kỳ sau của gẫy xương ,Sau khi xương gẫy đã liền ,dùng pháp cường cân tráng cốt pháp.Có thể dùng các dược vật đã nêu trên,có thể dùng thư cân thang để làm tăng  khả năng tập luyện ,từng bước phục hồi công năng chi gãy.

5.2.6. Thanh nhiệt hoạt huyết: Dùng trong các trường hợp huyết ứ ngưng trệ, huyết ứ hóa nhiệt ,vết thương sưng nóng đỏ đau. Dùng các thuốc hành ứ hoạt huyết nêu trên gia thêm một số vị hàn lương thanh nhiệt như hoàng liên, hoàng cầm, sinh địa, đơn bì, hoàng bá.

5.2.7.  Ôn kinh thông lạc: Những thương tổn lâu nhiễm phong , hàn ,thấp sưng đau nặng lên có thể dùng pháp ôn thông kinh lạc để khu phong, tán hàn ,hoạt huyết tiêu sưng .Thường dùng thuốc uống trong như Thấu cốt đan,Thư cân hoạt huyết thang .

Khoảng ba thập kỷ lại đây có nhiều bài thuốc kinh nghiệm,bài thuốc dân gian đã được viện YHCT ViệtNamsưu tầm ,thừa kế. Và một số bài thường dùng như;

Rượu (Bài thuốc gia truyền nhiều đời của lương y Bùi Xuân Vạn ở Thọ Xuân – Thanh Hóa )

Phòng phong        8g                      Sa nhân                 4g

Huyết giác            12g                    Thiên niên kiện       5g

Xuyên quy            8g                      Độc hoạt               8g

Tục  đoạn              2g                     Đại hoàng              8g

Cứ 1lít rượu ngâm 65g thuốc, ngâm 7 ngày rồi lọc rượu uống.

  • Tiêu viêm ( thuốc nam ở xã )

Lá móng tay         10g                              Nghệ              8g

Huyết giác            12g                             Tô mộc           10g

Ngải cứu               12g

Nấu thành cao lỏng , mỗi ngày người lớn uongs 30ml.

  • Thuốc bổ gân xương

Bột lộc giác xương         10g                            Bột cốt toái bổ 12g

Mẫu lệ                            4g

Tóm lại , một trong những vốn quý của YHCT là điều trị gãy xương .Kinh nghiệm về lĩnh vực này đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ mang tính chất gia truyền. Điều trị gẫy xương đơn thuần theo YHCT trong nhiều trường hợp hiệu quả nắn chỉnh chưa tốt ,phương tiện cố định đơn giản ,dễ phổ cập, nhưng chất lượng cố định chưa cao trong các trường hợp gẫy xương lớn ,có cơ co kéo mạnh như xương đùi hoặc một số trường hợp gẫy gần khớp.Điều trị gẫy xương theo YHCT hay theo YHHĐ đều có ưu điểm và nhược điểm nhất định. Việc kết hợp YHCT với YHHĐ nhằm phát huy ưu điểm và khắc phục nhược điểm của từng phương pháp cho phép điều trị chất lượng ngày một cao hơn , hoàn hảo hơn.

III. NHỮNG ỨNG DỤNG CƠ BẢN CỦA ĐIỀU TRỊ GẪY XƯƠNG BẰNG YHCT

Điều trị gẫy xương theo YHCT , ngoài việc cố định xương gẫy còn hết sức chú trọng vận động cơ khớp trong thời gian cố định xương gẫy sau khi nắn chỉnh, được cố địnhmột cach hợp lý ,có thể giữ cho các đoạn xương gẫy ở vị trí tương đối chính xác là xương gẫy có thể liền bình thường .Mặt khác cần bắt chi gẫy và toàn thân luyện tập với cường độ và biên độ trong giới hạn cho phép để giúp cho thương tổn mau lành và xương gẫy chóng liền

Điều tri gẫy xương phải tuân theo 4 nguyên tắc của YHCT ,kết hợp “ Động tĩnh ” và quan tâm “ Tại chỗ – toàn thân ” .Bốn nguyên tắc đó là:

  • Nắn chỉnh sớm gẫy xương.
  • Cố định ngoài cuc bộ một cách hợp lý
  • Luyện tập công năng.
  • Dùng thuốc : dùng thuốc ngoài và thuốc dùng trong.

Ứng dụng cơ bản điều trị gẫy xương cánh tay.

  • Thuốc dùng trong:

Lấy rễ và lá tươi cây Đại ma giã lấy nước chừng một bát mà uống.Không có tươi thì lấy thứ khô sắc lên mà uống.

Đại ma còn gọi là hỏa ma, Cây gai mèo,Cây cần xa.

  • Thuốc dùng ngoài:

Lấy một bộ xương đầu con chó vàng ( đun nước sôi để lột hết da lông lọc hết thịt ) rồi nướng trên than cho thật giòn .Sau đó đem tán nhỏ .Lại cũng lấy mẫu lệ sấy khô tán nhỏ . Cứ 5 tiền xương đầu Chó thì trộn với 3 tiền mẫu lệ và 2 tiền bột Quan quế . Sau đó lấy một vuông lụa sạch trải ra , phết cháo gạo nếp lên, rồi rắc thuốc lên ,bó vào chỗ xương gẫy .Rồi sau đó lại lấy mấy thanh tre mà kẹp cố định cho chỗ xương gẫy không xê dịch . Sauk hi bó một nát thấy ngứa ngáy khó chịu là hiệu quả ,nếu ngứa chỉ lấy tay xoa vỗ nhè nhẹ bên ngoài cho bớt ngứa không nên động mạnh.Chỉ một hai ngày sau là xương tự nhiên liền lại.

IV. KINH NGHIỆM TRONG ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG

Cũng dựa trên nguyên tắc chữa gẫy xương bằng các phương pháp y học dân tộc là kết hợp chặt chẽ giữa động và tĩnh (cố định tại chỗ, vận động sớm) tại chỗ và toàn thân (hoạt huyết, tiêu viên và bổ khí) các phương pháp chữa gẫy xương bằng y học dân tộc cũng qua trình tự: kiểm tra ổ gãy xương, chỉnh hình, cố định tại chỗ, vận động sớm và uống thuốc thuốc toàn thân để thúc đẩy quá trình liền xương nhanh chóng:

- Sau khi vận dụng các động tác ấn, nắn, kéo để phục hồi lại vị trí cũ của xương dùng các thuốc sau:

* Dùng rượu xoa bóp

Xoa vào vùng xương gãy nhằm mục đích hành khí hoạt huyết chống đau, thư cân hoạt lạc.

Bài thuốc gồm:

Nghệ già                    30g                                 Đại hồi            12g

Thiên niên kiện         20g                                 Huyết giáp       12g

Ô dầu                        40g                                 Quế chi            12g

Long não                  15g                                  Địa liền           20g

Tán nhỏ các vị thuốc, ngâm rượu một tuần, lọc bỏ bã pha thêm khoảng 250ml nước cho vừa đủ một lít xoa nhẹ nhàng vào da ngoài vị trí gãy.

*  Đắp thuốc

Để hành khí, hoạt huyết tiêu viêm, chỉ thống, an thần

Bột cúc tần                  800g

Bột quế chi                 160g

Bột đại hoàn                 80g

Sáp ong                        200g

Dầu ve                          2 lít

          Các vị thuốc tán nhỏ thành bột mịn, đun sôi dầu ve cho sáp ong vào đánh tan, dập lửa, cho bột thuốc đánh cho nhuyễn làm thành cao đắp lên vị trí gãy đã cố định.

Bài thuốc nam đắp:

Lá gấc

Lá si

Vỏ núc nác

Vỏ cây gạo

Thành phần bằng nhau giã nát bột làm thành cao với dầu ve và sáp ong rồi đắp lên vị trí gẫy đã cố định.

* Thuốc uống trong:

- Giai đoạn đầu (1-2 tuần): Cho uống thuốc chống viêm do tác dụng hành khí, hoạt huyết của thuốc.

Bài thuốc:

Lá móng tay              12g

Ngải cứu                    12g

Huyết giác                 12g

Tô mộc                      10g

Nghệ                          8g

Sắc uống ngày 1 thang

- Giai đoạn sau (tuần thứ 3): sưng phù đã hết, các bệnh suy nhược cơ thể, người già, gãy xương lớn. Có thể uống các thuốc bổ huyết, gân xương.

Bài thuốc:

Đẳng sâm 16g                                   Mẫu lệ 12g

Bạch truật 12g                                   Ba kích 16g

Đương quy 12g                                 Tục đoạn 12g

Hoàng kỳ 12g                                    Cốt toái bổ 12g

Hoai sơn 16g                                     Cẩu tích 12g

Thiên niên kiện 10g

Sắc uống ngày 1 thang

TÀI  LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Y tôn kim giám ngoại khoa – Giản Thanh Tề  thư cục ấn – Xuất bản ngày 16 tháng 2 năm Càn Long thứ 5 Trung Hoa
  2. Trung y ngoại khoa khái  yếu – Lăng Vân Bằng – nhà xuất bản Nhân dân vệ sinh Trung Hoa
  3.  Hải Thượng y tôn tâm lĩnh – Đại y tôn Hải thương lãn ông Lê Hữu                Trác.Nhà xuất bản y học.

Gẫy Xương

Leave A Response